Tại Sao Tôi Không là người Kitô?

January 8, 2010
Tại Sao Tôi Không là người Kitô?

Why I Am Not a Christian
Bertrand Russell (1872-1970)

 
 
Lời Người Dịch

1.

Tại sao tôi Không là người Kitô (Why I am not a Christian) – được coi như bản văn triết học báng bổ Kitô nhất đã từng viết và phổ biến rộng rãi, điều sau đến từ sức lôi cuốn tự nhiên với những người đọc là những ai đã có kinh nghiệm về tôn giáo lớn và quan trọng này. Sau mở đầu bằng định nghĩa một người theo Kitô chủ yếu là phải có niềm tin vào hai đối tượng: tuyệt đối vào Gót và ít nhiều vào Christ. Russell lần lượt trình bày sự nghi ngờ và phủ nhận của ông, qua luận lý, dựa trên lý trí của khoa học và triết học. Ở phần đầu tiên, Russell phân tích một số những biện chứng luận lý về sự hiện hữu của Gót, trong đó có luận chứng vũ trụ, luận chứng luật thiên nhiên, luận chứng thiết kế và những luận chứng đạo đức. Sang phần thứ hai, ông đi vào phê phán một vài điểm quen thuộc của giáo điều Kitô, cho thấy những thiếu sót ngay từ những lời giảng và tư cách đạo đức của chính bản thân Christ – đặc biệt là sự xác quyết của vị này vào tính vĩnh cửu của trừng phạt và của hỏa ngục, hai vũ khí tinh thần khủng bố con người.

Russell cũng bày tỏ mối hoài nghi về một Christ lịch sử, và đặt câu hỏi về tính chất đạo đức vẫn được gán cho tôn giáo này: “Tôi nói – với tất cả thận trọng rằng – đạo Kitô, như tổ chức giáo hội, đã từng và vẫn còn, là thù nghịch chính của các tiến bộ đạo đức trên toàn thế giới.”.

2.

Chúng ta đều biết Bertrand Russell là một nhà lôgích và một triết gia lỗi lạc. Why I Am Not a Christian, cũng là tên gọi chung của một tuyển tập gồm những bài viết về tôn giáo của ông, Bài  luận văn này – Tại sao tôi không là người Kitô chủ yếu là một lý luận chứng minh bản chất lừa dối và độc hại của tin tưởng tôn giáo và của các hoạt động hội nhà thờ. Tính chất lừa dối và độc hại này được Russell trình bày với những lập luận và bằng chứng không thể chối cãi, không thể đưa ra lập luận hoài nghi, hay phản bác được. Bài văn có cấu trúc lôgích đơn giản, chặt chẽ:  Ông nêu hai tiền đề – và đưa ra kết luận thuận lý và vững chắc từ hai tiền đề đó:  

Tiền đề 1             Hiện hữu của Gót vẫn bàn luận, ngờ vực, nhưng sự thật là Gót không có thực

Tiền đề 2             Christ không là người khôn ngoan nhất, cũng không là người đạo đức nhất 

Kết luận               đạo Kitô là một sai lầm, lừa dối và tai hại – nên tôi không là người Kitô

Nếu có thể tóm tắt kết luận chính yếu Russell đem cho chúng ta, là như sau: con người có tín ngưỡng, theo tôn giáo, và đặc biệt tin tưởng vào Gót – hoàn toàn đến từ tình cảm hơn là lý trí. Tình cảm chủ yếu đó, Russell chỉ ra là sự sợ hãi. Thế nên, đoạn cuối, ông khuyến khích chúng ta hãy là những người tự do, đừng để đời sống và tư tưởng bị nô lệ, hãy nhìn thẳng vào thế giới quanh mình, sống với nó, vui với nó, cam chịu với nó, hay như vẫn nói – chìm nổi với đời này, đừng nhìn đâu khác, đừng trông mong đời khác, thần linh khác, đừng vì những không thực mà bỏ mất những gì có thực:

Chúng ta muốn đứng thẳng, vững chãi trên chính hai chân mình, tự lập với tất cả những gì cần để sống, không phải nhờ bất cứ ai khác, nhìn thế giới với con mắt ngay thực và công bằng – những sự kiện tốt, những sự kiện xấu, những cái đẹp đẽ, và những cái không-đẹp-đẽ của nó; nhìn thế giới như nó-thực-là, và đừng sợ nó. Chinh phục thế giới bằng trí tuệ thông minh và đừng chỉ đơn thuần để sự khiếp hãi từ nó đến làm mình bị khuất phục nô lệ. Toàn thể khái niệm về Gót là một khái niệm bắt nguồn từ những thể chế chuyên quyền cổ hủ của vùng Cận Đông. Nó là một khái niệm hoàn toàn đáng khinh, không xứng với con người tự do”.

3.

Ra đời đã gần một trăm năm, thông điệp của bản văn vẫn không mất chút thời gian tính nào, và đang được làm sống lại mạnh mẽ, sôi động, hùng hồn, và sâu rộng hơn, với những khuôn mặt mới nhưng sớm quen thuộc với độc giả của thế giới văn hóa Anh ngữ hiện nay, tạm kể những giọng đang cao, tiếng đang lớn, và đang chuyển động dư luận: Richard Dawkins, Daniel Dennett, Sam Harris, và Christopher Hitchens. Tôn giáo, đặc biệt là ba tôn giáo tin-chỉ-một-gót ở phương Tây, vẫn là đề tài thời sự nỏng bỏng của ngày nay, vì chúng đã không  chìm vào bóng tối như đã tưởng, nhưng vẫn không ngừng là những động lực mạnh mẽ đi ngược, cản trở những tiến bộ là thành tựu của lý trí con người, đặc biệt tại Âu Mỹ, trong các lĩnh vực đạo đức, xã hội, giáo dục và khoa học, (và những tác hại trực tiếp của chúng vào xã hội những nước hậu thực dân ở Á Phi).  Vũ khí tinh thần của những người dẫn đầu vận động Tân Vô thần (New-Atheism) này đem xử dụng, vẫn có thể gặp thấy trong Why I am not a Christian  của Russell.

Tại sao tôi Không là người Kitô
 là bạn gối đầu gường của rất nhiều người, nhiều thế hệ. Giọng văn có nhiều chỗ hóm hỉnh và pha chút bông đùa, nhưng trước sau là sự chân thành chia xẻ kinh nghiệm cá nhân, mong đánh thức người nghe; ông hướng chúng ta đến suy tưởng sâu xa, hơn là những xúc động phẫn khích nhất thời, dù người nghe có đồng ý hay không với dòng suy nghĩ của ông về đạo Kitô, điển hình của loại tôn giáo tin-chỉ-một Gót; nên bài nói chuyện này cũng là một bản văn triết học kinh điển cô đọng, nghiêm chỉnh đặt những vấn đề trọng đại, nêu những vấn nạn tri thức rất nổi tiếng. Russell thực sự chỉ tiếp tục một truyền thống không-tin-có-gót vốn có sẵn của triết học phương Tây, trước khi có tôn giáo loại như Kitô, từ cổ thời  Hylạp, trong Epicurus, Lucretius, đến những khuôn mặt lớn của hai thế kỷ vừa qua: David Hume, Friedrich Nietzsche, Emile Durkheim, Sigmund Freud, Karl Marx. Why I am not a Christian đã thách thức bản chất tôn giáo, nội dung tin tưởng và nền tảng thần học của đạo Kitô. Riêng Why I am not a Christian, rất ngắn, rất gọn, không dày đặc ngôn từ triết học, chỉ bằng điềm đạm lôgích của những người mà ông gọi chung là những nhà tự do tư tưởng (Freethinkers), nhưng sức công phá của nó vẫn mãnh liệt không ngừng từ đó.

Ông phá mở những cánh cửa mà sau đó không thể nào đóng lại để tiếp tục che dấu, như trước nữa. Nhờ đó, rất nhiều người đã bỏ đi ra, và ắt phải đã có đông đảo hơn nhiều, những người có dịp bước ngang qua, nhưng đã không đi vào.

Không tìm thấy một bản Việt ngữ; tôi tạm dịch bài này – gửi những người lặng lẽ đi ra và những người vô danh không-đi-vào đó.

Những người Việt, những nạn nhân sống xót của thực dân tín ngưỡng, và xâm lăng văn hóa đến từ phương Tây.

Lê Dọn Bàn

(Jun/2009)

 

Read the rest of this entry »

Thư gửi dân chúng một nước Kitô

December 25, 2009

Thư gửi dân chúng một nước Kitô

Letter to a Christian Nation (2006)

Sam Harris



Chú thích gửi độc giả


Kể từ khi quyển sách đầu tiên của tôi – The End of Faith – (Đường cùng của Đức tin Tôn giáo) – xuất bản, hàng nghìn người đã viết cho và bảo tôi rằng, tôi sai không tin vào Gót. Trong các trao đổi này, những thù nghịch nhất đến từ những người Kitô. Điều này thật mỉa mai, trái khoéo, vì những người Kitô thông thường hay tưởng rằng không tín ngưỡng nào truyền đạt đức hạnh yêu người và tha thứ hiệu quả hơn là tín ngưỡng của riêng họ. Sự thật là, nhiều người tuyên bố mình đã chuyển hóa vì tình yêu của Christ, đã sâu hận, đến ngay cả mức dọa giết, không kham chịu nổi sự phê bình. Trong khi chúng ta có thể gán điều này vào bản tính con người, có một điều rõ ràng là ghét hận đến mức như thế, rút ra được ủng hộ đáng kể từ kinh Thánh. Làm sao tôi biết điều này? Những lá thư dữ dằn nhất trong các trao đổi với tôi, luôn luôn viện dẫn chương này, câu nọ của kinh Thánh.

Read the rest of this entry »

Sự Hy sinh Lý trí

December 6, 2009

Sự Hy sinh Lý trí


The Sacrifice of Reason

Sam Harris


Lời Người dịch


Trong bài viết Có phải đạo Kitô phi lý không? – M. Martin chỉ ra sự phi lý trong lý thuyết về Sự Chuộc tội của đạo Ki tô – câu hỏi tại sao – giả định–Jesus lại hiện thân xuống trần, hy sinh trên thập giá để rồi phục sinh.

Một trong các câu trả lời có thể tìm được trong lịch sử về tục lệ giết vật tế thần – của nhân loại ở cổ thời. Bài viết này của Harris khai triển nội dung đó.

Read the rest of this entry »

Có phải đạo Kitô phi lý không?

December 1, 2009

Có phải đạo Kitô phi lý không?

Is Christianity Absurd?

Michael Martin

Lời người dịch

Michael Martin là một trong những khuôn mặt tiêu biểu[1] cho giới triết gia học giả vô thần hiện nay đang giảng dạy trong các trường đại học nước Mỹ. Ngoài những luận văn chuyên khoa triết lý, các sách giáo khoa, hay tham khảo cho môn Triết, Triết lý tôn giáo và Tôn giáo đối chiếu, ông cũng viết những luận văn tuy ngắn, nhưng rất giá trị, những văn bản triết lý hướng đến độc giả phổ thông – mà tôi tạm gọi là “triết học cho những người không học triết”.

Những ai muốn đào sâu các nội dung này – xin mời đọc hai tác phẩm cơ bản của ông do nhà xuất bản trường đại học Temple, Philadelphia xuất bản:Atheism: A Philosophical Justification (1990), The Case Against Christianity (1991). Đặc biệt về chủ đề đạo đức của những người vô thần đối mặt với truyền thống và huyền thoại Judaeo-Christian, ông có tác phẩm Atheism, Morality and Meaning. Tác phẩm của ông, chẳng những chỉ uyên bác thuyết phục, nhưng bảo vệ và xây dựng một triết lý và cơ sở đạo đức vô thần, đem lại phần thưởng hứng khởi thú vị cho người đọc.

Read the rest of this entry »

Thiên đường dậy sóng hoài nghi

November 30, 2009

Thiên đường dậy sóng hoài nghi


Problems with Heaven (1997)

Michael Martin


Lời người dịch

Ai ai cũng muốn lên thiên đường, nhưng chẳng ai muốn chết cả [1]

Câu hát đó đập vào tôi ngay lần nghe đầu tiên, cách nay đã rất lâu, nên đến giờ đã quên mất cả tên người hát, và cũng quên cả các phần sau. Một nghịch lý của các tôn giáo phương Tây: Chết và Thiên đường. Phải chết xong đã, mới thấy cánh cửa vào đất Hứa. Thế nên Thiên đường vẫn là một hoài nghi – vì chưa chết nên không thể biết thực hư, nhưng chết rồi, thực hư không thể nói, mà cho cùng, với người chết, biết còn chăng chuyện thực hư. Vậy nên, thiên đường chỉ là để cho người sống bàn bạc, mơ tưởng, và nhất là rao giảng.

Read the rest of this entry »